Soạn bài Từ tượng hình, từ tượng thanh

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Thế nào là từ tường hình, từ tượng thanh? - Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật. Ví dụ: + lẻo khẻo, khệnh khạng, tun ngủn, nặng nề, bệ vẹ, lênh khênh, tha thướt, … + Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời (Quang Dũng) - Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người. Ví dụ : + róc rách, ha hả, hềnh hệch, hu hu, sòng sọc, loảng xoảng, phì phì, ầm ầm, tí tách, … + Văng vẳng bên tai tiếng chích choè, Lặng đi kẻo động khách làng quê. Nước non có tớ cùng vui vẻ, Hoa nguyệt nào ai đã đắm mê. Quyên đã gọi hè quang quác quác, Gà từng gáy sáng tẻ tè te Lại còn giục giã, về hay ở, Đôi gót phong trần vẫn khoẻ khoe. (Nguyễn Khuyến) 2. Công dụng của từ tượng hình, từ tượng thanh: - Từ tượng hình, từ tượng thanh do có chức năng gợi hình và mô phỏng âm thanh cụ thể, sinh động như … [Read more...]

Suy nghĩ về giữ gìn truyền thống dân tộc của thế hệ trẻ

Từ thời xa xưa, ông bà ta đã thường sử dụng những câu thành ngữ, tục ngữ để răng đe dạy và nhắc nhở con cháu của mình về những phẩm chất, đạo lí cần thiết mà mỗi người ai cũng phải có như là: “một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tùy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.....các câu tục ngữ, thành ngữ ấy thể hiện lòng hiếu thảo, sự biết ơn và lòng thương người... Trong đó, có câu tục ngữ “uống nước nhớ nguồn” thể hiện phẩm chất đạo đức quan trọng của người Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đất nước mình đang ngày một phát triển để hội nhập với nước ngoài thì đạo lí này càng trở nên sâu sắc hơn. Sau đây, tôi và các bạn hãy cùng nhau làm rõ câu tục ngữ này để có thể hiểu tận tường những ý từ của ngươì xưa muốn răng dạy chúng ta thông qua câu tục ngữ này. Thoạt nghe qua thì chắc hẳn ai cũng có suy nghĩ này rất … [Read more...]

cảm nghĩ về Bố – bài mẫu 1

Từ khi mở mắt chào đời, người nuôi nấng tôi nên người chính là người cha yêu dấu của tôi. Cha vui vẻ, thương con, và tốt bụng. Những đức tính ấy của ba tôi chắc hẳn sẽ phải khiến cho những người ba khác phải nghĩ lại - tôi luôn nghĩ vậy. Ba nay ngoài năm mươi, tuổi mà ngày xưa dân ta gọi bằng cụ. Mái tóc của ba tôi ngày càng bạc đi theo năm tháng. Làn da của ba màu bánh mật, đã có vài chấm đồi mồi xuất hiện trên tay của ba. Đôi mắt màu nâu sậm, cái mũi cao đặc trưng của họ nội nhà tôi làm cho ba như trẻ lại vài ba tuổi. Người ba tôi khỏe mạnh nhưng hơi gầy. Ở nhà, ba phụ mẹ tôi bán hàng sau khi đã nghỉ hưu. Những người chị của tôi được ba nuôi nấng thành tài. Không phụ lòng của ba, tôi cũng cố gắng học thật giỏi bằng việc tự học bài và làm bài tập về nhà đầy đủ mà không cần ba nhắc, hằng ngày đi học được điểm cao. Nhắc đến số điểm, tôi nhớ nhất lần tôi được có năm phẩy tám điểm môn … [Read more...]

Soạn bài Từ trái nghĩa

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN  1. Thế nào là từ trái nghĩa? Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa trái ngược nhau. a) Tìm trong bản dịch thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Tương Như và Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Trần Trọng San các cặp từ trái nghĩa. Gợi ý: Các cặp từ trái nghĩa: ngẩng - cúi (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh); trẻ - già, đi - trở lại (Ngẫu nhiên viết nhân buổi về quê). b) Tìm từ trái nghĩa với từ già trong trường hợp rau già, cau già. Gợi ý: trẻ - già trái nghĩa với nhau về tuổi tác; trong trường hợp rau già, cau già, trái nghĩa với già là non (rau non, cau non) 2. Sử dụng từ trái nghĩa a) Nhận xét về nghệ thuật sử dụng từ trái nghĩa trong hai bản dịch thơ trên. Gợi ý: Về cặp từ trái nghĩa ngẩng - cúi trong bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh, hãy đọc đoạn văn sau: Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương. Tất cả diễn ra trong thoáng chốc (ngỡ – ngẩng … [Read more...]

Soạn bài Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Từ nhiều nghĩa a) Từ nhiều nghĩa là gì? - Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa - Ban đầu, từ thường chỉ có một nghĩa nào đó. Nhưng trong thực tế sử dụng, để đáp ứng trình độ nhận thức ngày càng cao của con người, trình độ phát triển của xã hội, nhằm gọi tên, biểu đạt những sự vật, hiện tượng, khái niệm mới, ngoài cách tạo ra những đơn vị từ mới hoàn toàn, người ta thêm vào nghĩa mới cho những từ đã có sẵn. Cách thêm nghĩa mới vào cho từ chính là cách tạo ra từ nhiều nghĩa. - Phân biệt giữa từ nhiều nghĩa và từ đồng âm: + Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa có mối quan hệ nhất định với nhau, xem xét nghĩa của từ nhà trong các trường hợp sau: (1) Ngôi nhà đã được xây xong. (2) Dọn nhà đi nơi khác. (3) Cả nhà đều có mặt đông đủ. (4) Nhà Dậu mới được cởi trói. (5) Nhà Tiền Lê đổ, nhà Lí lên thay. (6) Nhà ơi, giúp tôi một tay. Như vậy, từ nhà có các nghĩa: + … [Read more...]

Soạn bài Luyện tập kết hợp các thao tác nghị luận

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Một bài văn phải là một chỉnh thể về hình thức và nội dung bao gồm kiến thức, các bước lập luận… Khi viết một bài văn nghị luận cần phải kết hợp nhiều thao tác nghị luận như so sánh, phân tích, chứng minh, giải thích, bình luận, suy luận... II. RÈN KĨ NĂNG 1. Luận điểm và các thao tác nghị luận được sử dụng trong các ví dụ a)  Luận điểm: Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam Thao tác nghị luận chính: so sánh và chứng minh. b)  Luận điểm: Người Việt Nam cần đổi mới Thao tác nghị luận chính: so sánh và phân tích. c) Luận điểm: Bóng trăng trong thơ Hồ Xuân Hương. Thao tác nghị luận chính: chứng minh và suy luận. d)  Luận điểm: Cần cù bù khả năng. Thao tác nghị luận chính:giải thích. e) Luận điểm: Cái mới bao giờ cũng chiến thắng cái cũ. Thao tác nghị luận chính: giải thích và chứng minh. 2.                Kết hợp các thao tác nghị luận thích hợp (phân … [Read more...]

Phân tích 20 câu đầu bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu

Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biểu nhất của nền thi ca hiện đại. “Ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng, nhà thơ của lý tởng cộng sản”. Tập thơ “Việt Bắc”, là đỉnh cao của thơ Tố Hữu đồng thời cũng là thành tựu hàng đầu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc” đợc coi là kết tinh sở trờng nghệ thuật của ngòi bút Tố Hữu. Đó là khúc hát ân tình của ngời kháng chiến đối với quê hương, đất nước với nhân dân cách mạng được thể hiện bằng một nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại mà cốt lõi là truyền thống ân nghĩa đạo lý thủy chung của dân tộc. Được coi là người sinh ra để thơ hoá những vấn đề chính trị, thơ Tố Hữu luôn bám sát các sự kiện cách mạng. Men theo năm tháng những bài thơ của Tố Hữu, ta có thể tái hiện lại những chặng đường hào hùng của cách mạng Việt Nam. Thơ ông quả là “cuốn biên niên sử bằng thơ” như có nhà nghiên cứu đã đánh giá. “Việt Bắc” … [Read more...]

Giá trị văn hóa truyền thống câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” trong giai đoạn Việt Nam phát triển hiện nay

Hội nhập và phát triển mang trong chúng mối quan hê nhân quả chuyển tiếp. Hội nhập để phát triển và trong phát triển có hội nhập. Mối quan hệ nhân nhân - quả quả - nhân nhân…, cứ như vậy, hội nhập và phát triển là quy luật chung trong sự vận động tiến lên mãi của mỗi quốc gia dân tộc, của mỗi con người và cả loài người. Vấn đề quan trọng là hội nhập và phát triển như thế nào? Giải quyết vấn đề này phụ thuộc nhiều vào ý nguyện của dân chúng và chính sách của mỗi quốc gia ở mỗi hoàn cảnh lịch sử nhất định. Đối với Việt Nam hiện nay, mong muốn hội nhập, tích cực hội nhập, chủ động hội nhập để phát triển nhưng không muốn “hoà tan”; phấn đấu phát triển đất nước, nhưng không muốn “tự đánh mất mình”; luôn tự hào về sự lớn mạnh của mình chứ không muốn “Bốn nghìn năm ta lại là ta”… Hy vọng bài viết nhỏ này có thể đóng góp chút ít gì đó vào việc thực hiện những mục tiêu có vẻ “khiêm tốn” … [Read more...]

Nghị luận câu “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Từ xưa đến nay, dân tộc Việt nam ta luôn đề cao tư tưởng nhân ái, một đạo lí cao đẹp. Bởi vì chúng ta đều là con Rồng cháu Tiên, đều được sinh ra từ cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ nên truyền thống “lá lành đùm lá rách cũng được phát huy qua nhiều thế hệ. Những tình cảm cao quí ấy được kết tinh, hội tụ và phản ánh qua những tác phẩm văn học dân tộc. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu những vấn đề trên qua bài chứng minh dưới đây. Nói văn học dân tộc ta luôn ca ngợi lòng nhân ái và tình yêu thương giữa người và người quả không sai. Trước hết Văn học của ta đề cập đến tình cảm trong gia đình, bởi gia đình là nơi con người sinh ra và lớn lên, là chiếc nôi khởi nguồn và nuôi dưỡng của lòng nhân ái. Trong đó thì tình mẫu tử là cao quí hơn cả. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm “những ngày thơ ấu”, đã cho chúng ta thấy rằng: “tình mẫu tử là nguồn thiêng liêng và kì diệu, là mối dây bền chặt không gì … [Read more...]

Nghị luận về những tính cách trong “Tình Bạn”

- Tính cách yêu thương và tự do trong tình bạn Theo ngôn từ học Tây phương, chữ “ami” trong tiếng Pháp có gốc từ chữ “amicus” trong tiếng La tinh, bắt nguồn từ chữ “amara” có nghĩa là yêu thương. Trong tiếng Anh, bạn là “friend”, hay tiếng Đức là “freund”, cả hai bắt nguồn từ nghĩa ngữ cũ là “frijon” cũng là yêu thương, có nguồn gốc Ấn-Đức Prâi : che chở, ý nhị, yêu thương. Đó cũng là nguồn gốc của các chữ “free” và “frei” : tự do. Như vậy, tự do và tình yêu cùng gặp nhau trong tình bạn. Đã là tình yêu thì không thể thiếu tự do, và người ta chỉ thực sự tự do khi hành động trong tình yêu. Như thế, tình bạn không bị ràng buộc, không bị độc chiếm, không khép kín và cũng không bắt buộc đáp trả. Mình sống cuộc đời của mình và biết rằng mình có người thương yêu. Những gì mình làm cho bạn là làm với tất cả tự do và tình thương, không bị áp lực bởi bất cứ lý do nào. Người bạn thân chính … [Read more...]

Soạn bài Lời văn, đoạn văn tự sự

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Lời văn tự sự a) Văn tự sự chủ yếu là văn kể người và kể việc. Khi kể người thì có thể giới thiệu tên, họ, lai lịch, quan hệ, tính tình, tài năng, ý nghĩa của nhân vật. Khi kể việc thì có thể kể hành động, việc làm, diễn biến sự việc thông qua hành động, việc làm ấy cũng như kết quả, những thay đổi do hành động, việc làm ấy đem lại cho câu chuyện. b) Lời văn giới thiệu nhân vật Đọc hai đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: (1) Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu thương nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng. (2) Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ [...]. Người ta gọi chàng là Sơn Tinh. Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém [...]. Người ta gọi chàng là Thuỷ Tinh. [...], cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng. - Các … [Read more...]

Soạn bài “Đánh nhau với cối xay gió” (trích tiểu thuyết Đôn-Ki-Hô-Tê)

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về tác giả: Xéc-van-tét (1547 - 1616) là nhà văn Tây Ban Nha. Ông viết tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê khi thời đại của lối sống hiệp sĩ đã qua rồi. Trong thời đại công nghiệp, không ai còn sống theo kiểu đó nữa. Tuy nhiên, trong xã hội lúc bấy giờ, không ít người nuối tiếc quá khứ một thời, cố bám víu lấy nó bằng cách xây dựng cho mình những ảo vọng, những lí tưởng phù du, xa rời thực tế. Họ say mê đọc những cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ được bày bán nhan nhản trên hè phố khiến cho đầu óc ngày càng mê muội. Xéc-van-tét nhận thấy rõ căn bệnh xã hội này và tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê ra đời là một thông điệp của nhà văn trước hiện tượng đó. 2. Về tác phẩm: a) Xéc-van-tét viết Đôn Ki-hô-tê không phải để ca ngợi tinh thần hiệp sĩ mà là để phê phán một tư tưởng đã quá lỗi thời. Ông sáng tác một tác phẩm theo đúng kiểu tiểu thuyết hiệp sĩ nhưng đọc lên ai cũng hiểu ông muốn nói … [Read more...]

Soạn bài “Thạch Sanh” – Truyện cổ tích

I.VỀ THỂ LOẠI (Xem trong bài Sọ Dừa). II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh rất khác thường. Chàng là thái tử, được Ngọc Hoàng sai xuống đầu thai. Bà mẹ mang thai nhiều năm mới sinh ra Thạch Sanh. Sau đó, Thạch Sanh lại được các vị thần xuống truyền cho võ nghệ và các phép thần thông. Kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh với những chi tiết khác thường, nhân dân đã tạo sự hấp dẫn cho câu chuyện qua sự khởi đầu kì lạ. Những nhân vật ra đời và lớn lên khác thường sau này sẽ lập được nhiều chiến công vĩ đại (ví dụ như nhân vật Hê-ra-kléx trong thần thoại Hi Lạp). 2. Trước khi được kết hôn với công chúa, Thạch Sanh đã trải qua nhiều thử thách: đi canh miếu và giết chết chằn tinh, xuống hang diệt đại bàng cứu công chúa rồi lại bị Lí Thông lừa nhốt trong hang, hồn chằn tinh và đại bàng trả thù, vu vạ khiến Thạch Sanh bị bắt nhốt trong ngục. Qua thử thách, Thạch … [Read more...]

Soạn bài “em bé thông minh” – truyện cổ tích

I. VỀ THỂ LOẠI (Xem trong bài Sọ Dừa). II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hình thức dùng các câu đố để thử tài con người rất phổ biến trong các câu chuyện cổ tích. Việc ra câu đố và giải đố, liên kết các sự kiện, nhân vật xung quanh hệ thống câu đố có nhiều tác dụng, trong đó chủ yếu là tạo ra các tình huống để phát triển cốt truyện, tạo sức hấp dẫn, cuốn hút người đọc, người nghe. Bên cạnh đó, tài năng, phẩm chất trí tuệ của các nhân vật cũng được bộc lộ trong quá trình giải quyết các câu đố mà người thường không giải được. 2. Sự mưu trí, thông minh của em bé được thử thách qua bốn lần, lần sau khó hơn lần trước: - Lần thứ nhất: Trả lời câu hỏi phi lí của viên quan (không ai đi cày lại bỏ công đếm số đường cày trong một ngày). - Lần thứ hai: Thay mặt dân làng hoá giải câu đố của vua (bắt trâu đực đẻ ra trâu con). - Lần thứ ba: Trả lời câu đố vua giao cho chính mình (vua đã biết người tài là … [Read more...]

Soạn bài Danh từ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đặc điểm của danh từ a) Hãy xác định danh từ trong cụm danh từ in đậm dưới đây: Vua sai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp với ba con trâu đực, ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con ...                                                                                          (Em bé thông minh) - Danh từ trong cụm từ in đậm là: Con trâu. b) Xung quanh danh từ trong cụm danh từ nói trên có những từ nào? Gợi ý: - Trong cụm danh từ đã nêu, đứng trước danh từ trung tâm là từ “ba” (một số từ, có tác dụng chỉ số lượng), đứng sau danh từ trung tâm là từ “ấy” (phụ từ chỉ định, có tác dụng giúp xác định rõ sự vật, hiện tượng được gọi tên). c) Tìm các danh từ khác trong câu đã dẫn. Gợi ý: có thể tìm và sắp xếp các danh từ theo nhóm chỉ người và chỉ vật. - Danh từ chỉ người như: vua. - Danh từ chỉ vật như: làng, thúng, con, gạo, trâu. d) Từ … [Read more...]

Soạn bài Ngôi kể trong văn tự sự

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Ngôi kể và vai trò của ngôi kể trong văn tự sự a) Ngôi kể là gì? Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng để kể chuyện. Ngôi kể thường được thể hiện ra bằng nhân xưng trong lời kể. Có khi người kể kể theo ngôi thứ nhất - xưng "tôi"; có khi kể theo ngôi thứ ba - dấu mình đi, không trực tiếp lộ diện nhưng thực ra đã có mặt ở khắp nơi để chứng kiến và kể lại chuyện, kể như nhân vật tự kể, kể như "người ta kể". b) Đọc kĩ các đoạn văn và cho biết hình thức ngôi kể của chúng. Dựa vào đâu để nhận biết? (1) Vua và đình thần chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc. Nhưng vua vẫn còn muốn thử một lần nữa. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở công quán, bỗng có sứ nhà vua mang tới một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em bé nhờ cha lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo: - Ông cầm lấy cái này vê tâu đức vua xin rèn cho tôi … [Read more...]

Soạn bài “Ông lão đánh cá và con cá vàng” – Truyện cổ tích

I. VỀ THỂ LOẠI (Xem trong bài Sọ Dừa). II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Trong truyện, có đến năm lần ông lão ra biển gọi cá vàng. Đây là một biện pháp lặp lại có chủ ý của truyện cổ tích. Năm lần ông ra với năm tâm trạng khác nhau, từ bối rối, ngượng ngùng cho đến hoảng sợ. Thái độ của cá vàng và biểu hiện của biển cả cũng thay đổi, tăng dần theo lòng tham của mụ vợ. Cách kể chuyện như vậy khiến cho câu chuyện không hề đơn điệu mà trái lại, ngày càng khiến cho bạn đọc cảm thấy hấp dẫn, hứng thú. Đặc điểm tính cách của các nhân vật, đặc biệt là nhân vật mụ vợ ông lão, ngày càng được tô đậm, nổi bật hơn lên. 2. Năm lần ra biển, cảnh biển thay đổi theo những đòi hỏi của mụ vợ ông lão: - Lần thứ nhất, mụ đòi cái máng mới: Biển gợn sóng êm ả. - Lần thứ hai, mụ đòi cái nhà rộng: Biển xanh đã nổi sóng. - Lần thứ ba, mụ đòi làm nhất phẩm phu nhân: Biển xanh nổi sóng dữ dội. - Lần thứ tư, mụ đòi … [Read more...]

Cảm nhận tình mẫu tử từ ‘Trong lòng mẹ’ của Nguyên Hồng

Nhắc đến Nguyên Hồng, người ta nhớ ngay đến những tác phẩm của ông mang một tình cảm nhân đạo thống thiết. Hồi ký “Những ngày thơ ấu” là kỷ niệm xót xa của cậu bé Hồng, mang theo cái dư vị đắng chát của tuổi thơ khát khao tình mẹ. Cho đến tận bây giờ, khi đọc lại những trang viết này, người đọc vẫn lây lan cảm giác của cậu bé sớm phải chịu thiếu thốn tình cảm, để rồi chợt nhận ra: tình mẫu tử là nguồn sức mạnh thiêng liêng và diệu kỳ, là nguồn an ủi và chở che giúp cho đứa trẻ có thể vượt lên bao đắng cay tủi nhục và bất hạnh. Đoạn trích " Trong lòng mẹ" là hồi ức đan xen cay đắng và ngọt ngào của chính nhà văn - cậu bé sinh ra trong một gia đình bất hạnh: người cha nghiện ngập rồi chết mòn, chết rục bên bàn đèn thuốc phiện, người mẹ cùng túng phải đi tha phương cầu thực, cậu bé Hồng đã phải sống trong cảnh hắt hủi ghẻ lạnh đến cay nghiệt của chính những người trong họ hàng. Cậu bé … [Read more...]

Soạn bài đọc tiểu thuyết và truyện ngắn

I. Những yêu cầu về đọc tiểu thuyết và truyện ngắn Tiểu thuyết và truyện ngắn thuộc loại tác phẩm tự sự. Tác phẩm được cấu tạo bởi các yếu tố cốt truyện, nhân vật, lời kể của người kể chuyện, chi tiết, tình tiết, tình huống... Khi đọc tiểu thuyết và truyệnngắn cần lưu ý 1. Phân tích hình tượng nhân vật Tư tưởng của nhà văn thể hiện ở hệ thống nhân vật, tập trung ở nhân vật chính. Khi phân tích nhân vật chú ý: + Các chi tiết miêu tả ngoại hình, nội tâm, hành động, biến cố, ngôn ngữ. Các yếu tố này thể hiện tính cách, bản chất và số phận nhân vật. + Quan hệ giữa nhân vật này với nhân vật khác, với hoàn cảnh. + Nhân vật thể hiện tư tưởng gì của nhà văn? 2. Phân tích chi tiết, cốt truyện Cốt truyện là hệ thống sự kiện xảy ra trong đời sống nhân vật, có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận của nhân vật. Các chi tiết cho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của nhân vật này đối … [Read more...]

Tả cảnh phố ngày giáp tết

Cái rét se lạnh của mùa đông đã qua đi, những tia nắng ấm áp bắt đầu ló dạng trên bầu trời vốn chỉ có một màu xám xịt. Và đây cũng là thời điểm người dân ở xóm em náo nức, tưng bừng chuẩn bị cho cái Tết cổ truyền của dân tộc. Vào những ngày này, làng xóm như thay đổi. Những ngôi nhà thơm nức mùi vôi mới. Đường xá không lúc nào ngớt người qua lại. Trẻ con thì tươi cười hớn hở, thanh niên diện những bộ đồ thật bảnh, còn người lớn thì người vui, người buồn, đủ vẻ. Sáng hôm nay, em cùng ba dọn dẹp sửa sang nhà cửa, lau dọn lại bàn thờ của tổ tiên. Mẹ đi chợ về, đem theo một giỏ đồ ăn. Nào là giò chả, bánh, kẹo, mứt và cả một con gà mái mơ béo xù để dành cúng tất niên. Em nghe mẹ nói với bố: - Anh đưa thêm tiền đi. Tết đến, bao nhiêu thứ phải mua, có mấy đồng tiêu sao đủ. Bố chắt lưỡi một cái rồi rút ví ra. Tết đến, em cảm nhận được một cái gì đó vui vẻ, hối hả, đợm vẻ lo toan mà ngày … [Read more...]

Soạn bài Thứ tự kể trong văn tự sự

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Em hãy tóm tắt các sự việc trong truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng. a) Các sự kiện trong truyện đã được sắp xếp theo thứ tự như thế nào? b) Thứ tự các sự kiện ấy có ý nghĩa gì trong việc thể hiện chủ đề của truyện? Gợi ý: - Tóm tắt các sự việc: + Giới thiệu hai vợ chồng ông lão đánh cá; + Ông lão đánh được cá vàng, cá vàng xin thả và hứa giúp ông toại nguyện mọi ước muốn; + Ông lão thả cá vàng mà chẳng cầu xin gì; + Lần thứ nhất ông lão ra biển xin cá vàng cái máng lợn mới theo đòi hỏi của vợ; + Lần thứ hai ông lão ra biển xin cá vàng cái nhà rộng theo đòi hỏi của vợ; + Lần thứ ba ông lão ra biển xin cá vàng cho vợ được làm nhất phẩm phu nhân theo đòi hỏi của mụ; + Lần thứ tư ông lão ra biển xin cá vàng cho vợ làm nữ hoàng theo đòi hỏi của mụ; + Lần thứ năm ông lão ra biển theo đòi hỏi của mụ vợ xin cá vàng cho mụ ta làm Long Vương, bắt cá vàng … [Read more...]

Soạn bài “Ếch ngồi đáy giếng” – Truyện ngụ ngôn

I. VỀ THỂ LOẠI 1. Truyện ngụ ngôn là loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần; Truyện ngụ ngôn mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người ta bài học nào đó trong cuộc sống. 2. Trong lịch sử văn học, truyện ngụ ngôn ra đời từ rất sớm. Từ thời cổ đại đã có Ê-dốp – một nhà thơ Hi Lạp chuyên viết truyện ngụ ngôn bằng thơ. Sau này có La Phông-ten cũng là một tác giả ngụ ngôn nổi tiếng. II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Ếch nghĩ bầu trời chỉ bé như một cái vung vì nó sống ở đáy giếng đã lâu ngày, xưa nay chưa từng ra khỏi miệng giếng. Khi nhìn qua miệng giếng hẹp, bầu trời đối với ếch chẳng khác gì một chiếc vung. Các con vật sống cùng với ếch dưới đáy giếng như nhái, cua, ốc đều bé nhỏ. Nó chỉ cần cất tiếng kêu ộp ộp cũng đủ làm cho chúng hoảng sợ. Vì chưa từng gặp kẻ nào mạnh hơn mình nên ếch mới nghĩ nó … [Read more...]

Lịch sử 7 Bài 11

Tiết 15 - Bài 11 : CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC TỐNG  (1075 - 1077) I. Giai đoạn thứ I (1075) 1/. Nhà Tống âm mưu xâm lược nước ta -Thế kỉ XI, nhà Tống gặp phải khó khăn về kinh tế ,chính trị -Xâm lược Đại Việt để giải quyết tình hình khó khăn trong nước. -Nhà Tống xúi Cham-pa đánh Đại Việt, ngăn cản việc trao đổi buôn bán giữa 2 nước 2/. Nhà Lý chủ động tiến công để phòng vệ. Nhà Lý chuẩn bị: -Nhà lý chủ động tiến hành các biện pháp chuẩn bị đối phó. +Cử Lý Thường Kiệt làm tổng chỉ huy tổ chức kháng chiến. + Chủ động đánh tan ý đồ tiến công phối hợp với ChamPa của nhà Tống +Chủ trương của nhà Lý:Tấn công trước để phòng vệ. b.Diễn biến: -Tháng 10-1075, Lý Thường Kiệt và   Tông Đản chỉ huy 10 vạn quân, chia làm 2 đạo tấn công vào đất Tống +Mục tiêu: kho lương thành Châu Ung +Đường bộ do Than cảnh Phúc, Tông Đản chỉ huy quân dân miền … [Read more...]

Soạn bài “Thầy bói xem Voi” – Truyện ngụ ngôn

I. VỀ THỂ LOẠI (Xem trong bài Ếch ngồi đáy giếng). II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Vì là thầy bói (mù) nên các thầy không thể xem voi tận mắt mà chỉ có thể sờ bằng tay. Con voi lại quá to nên mỗi thầy chỉ sờ được một bộ phận của nó, thế nên cùng xem một con voi mà ý các thầy không giống nhau: thầy sờ vòi bảo nó sun sun như con đỉa, thầy sờ ngà bảo nó chần chẫn như cái đòn càn, thầy sờ tai bảo nó bè bè như cái quạt thóc, thầy sờ chân cãi nó như cái cột đình, thầy sờ đuôi lại nói nó tun tủn như cái chổi sể. Thái độ của các thầy ở đây không phải là tự tin mà chủ quan đến cực đoan: ai cũng cho là mình đúng nhất, người sau phản bác ý kiến của người trước để khẳng định ý của mình, không ai chịu ai, cho nên từ bàn tán các thầy chuyển sang xô xát, dẫn đến kết cục là đánh nhau toác đầu, chảy máu. 2. Sai lầm của các thầy bói là ở chỗ: đáng lẽ phải xem cả con voi thì mỗi thầy lại chỉ sờ được một bộ … [Read more...]

Địa Lí 12 Bài 42 – Vấn đề phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ở biển Đông và các đảo, quần đảo

1. Vùng biển và thềm lục điạ nước ta giàu tài nguyên a. Nước ta có vùng biển rộng lớn: - Diện tích trên 1 triệu km2 - Bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa. b. Nước ta có điều kiện để phát triển tổng hợp kinh tế biển: + Nguồn lợi sinh vật biển: phong phú có giá trị kinh tế cao, nhiều đặc sản. + Tài nguyên khoáng sản: muối, dầu khí, cát thuỷ tinh, ti tan,... + GTVT biển: Có điều kiện phát triển. + Du lịch biển, đảo. 2. Các đảo và quần đảo có ý nghĩa chiến lược trong phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh vùng biển: a. Các đảo: Có > 4.000 đảo lớn nhỏ, quần đảo: Trường Sa, Nam Du, Thổ Chu, Hoàng Sa - Ý nghĩa: + Tiền tiêu bảo vệ đất liền. + Căn cư tiến ra biển và đại dương trong thời đại mới. + Khẳng định chủ quyền nước ta đối với vùng biển và thềm lục địa quanh đảo. b. Nước ta có 12 huyện đảo: … [Read more...]

Soạn bài “Đeo nhạc cho mèo” – truyện ngụ ngôn

I. VỀ THỂ LOẠI (Xem trong bài Ếch ngồi đáy giếng). II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Lúc đầu, sáng kiến "đeo nhạc cho mèo" do ông Cống đưa ra được cả làng chuột đồng thanh ưng thuận nên cuộc họp diễn ra trong không khí rất sôi nổi. Nhưng khi bàn đến việc cử người thực hiện cái sáng kiến "tuyệt diệu" ấy thì ngược lại, ai cũng chối đây đẩy, tìm đủ mọi lí do để trốn việc và đùn đẩy cái việc chết người ấy cho kẻ khác. Ông Cống đùn sang anh Nhắt, anh Nhắt láu lỉnh lại đẩy sang cho chuột Chù. Rốt cuộc chuột Chù, vì không chối vào đâu được nữa mà cũng không biết đẩy cho ai, nên đành phải nhận. 2. Sự đối lập giữa hai cảnh tượng ấy chứng tỏ làng chuột đa phần là những kẻ "khi vui thì vỗ tay vào", chỉ biết nói suông, khi cần bàn đến việc cụ thể, liên quan đến tính mạng của cá nhân thì "cháy nhà mới ra mặt chuột", từ ông Cống đến anh Nhắt, lộ nguyên hình là những kẻ chỉ biết chỉ tay sai khiến, đùn đẩy … [Read more...]

Lịch sử 7 Bài 10

Tiết 14 BÀI 10:                       NHÀ LÝ ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC 1. Sự thành lập nhà Lý - Năm1005, Lê Hoàn mất, Lê Long Đỉnh lên ngôi vua 1009 Lê Long Đỉnh chết.Triều Tiền Lê chấm dứt.Lý Công Uẩn được  suy tôn làm vua à Nhà Lý thành lập -1010 đặt niên hiệu làThuận Thiên dời đô về Đại La, ( Hà Nội) lấy tên Thăng Long -1054 nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt -Xây dựng bộ máy nhà nước.: +Vua đứng đầu nắm giữ mọi quyền hành, theo chế độ cha truyền con nối.Gíup việc có các quan đại thần, các quan văn võ +Chia cả nước thành 24 lộ, phủ.Dưới lộ phủ là huyện, hương xã. 2.Luật pháp và quân đội. a.Luật pháp: Năm1042 nhà Lý ban hành bộ luật Hình Thư ( Bộ luật thành văn dầu tiên của nước ta). * Nội dung:Bảo vệ nhà Vua,triều đình; bảo vệ của công, tài sản nhân dân; cấm giết trâu bò, bảo vệ sản xuất nông nghiệp. b.Quân đội: + Gồm 2 bộ phận: … [Read more...]

Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925

1. Bối cảnh quốc tế và tác động của nó đến Việt Nam. Tháng 11/1917, cách mạng tháng Mười Nga thành công, đưa giai cấp công nông lên nắm chính quyền và xây dựng chủ nghĩa xã hội, biến học thuyết của Mác thành hiện thực. Tháng 2/1919, Quốc tế cộng sản (Quốc tế 3) thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Quốc tế III, phong trào cách mạng vô sản thế giới phát triển nhanh chóng: Tháng 12/1920, Đảng cộng sản Pháp thành lập. Năm 1921, Đảng cộng sản Trung Quốc ra đời. Từ năm 1923 trở đi, một số nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được du nhập vào Việt Nam qua một số sách báo của Đảng cộng sản Pháp và Đảng cộng sản Trung Quốc và tác động trực tiếp đến một số trí thức Việt Nam yêu nước ở nước ngoài mà tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc. 2. Phong trào dân tộc dân chủ trong nước do giai cấp tư sản dân tộc và tiểu tư sản lãnh đạo giai đoạn 1919 – 1925 Những năm sau chiến tranh thế giới … [Read more...]

Phân tích bức tranh tứ bình của bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu

Việt Bắc là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu. Lời thơ như khúc hát ân tình tha thiết về Việt Bắc, quê hương của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ở đó, bên cạnh cách những bức tranh hùng tráng, đậm chất sử thi về cuộc sống đời thường gần gũi, thân thiết được bao bọc bởi thiên nhiên vô cùng tươi đẹp: Ta về, mình có nhớ ta Ta vê, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. Đây là bức tranh được dệt bằng ngôn từ nghệ thuật toàn bích, có sự hoà quyện giữa cảnh và người, giữa cuộc đời thực với tấm lòng của nhà thơ cách mạng. Mười câu thơ trên nằm trong trường đoạn gồm 62 câu thơ diễn … [Read more...]

Soạn bài về luyện tập tách câu

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Tách câu là tách một bộ phận của câu thành câu riêng nhằm mục địch tu từ (nhấn mạnh nội dung thông tin) hoặc để chuyển nội dung. Việc đặt dấu câu bất thường như vậy thường chỉ gặp trong văn học nghệ thuật. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Đọc các câu sau: a. Ông già không nói. đang nhấp ngụm trà thơm phức mùi ngâu. b. Cô hàng xóm vừa du học ở Ô-xtrây-li-a về. Cho một đĩa ổi chín. c. Bà đẹp lắm. Đẹp lạ lùng. d. Tôi cắn trái ổi mùa đầu. Và mời cha một trái. e. Chẳng sợ hãi gì trước con mèo nanh ác, con chim khuyên bé tẹo. Sà xuống. Xù lông. g. Trước những lời đe dọa trắng trợn như vậy, người đàn ông gầy mà cao. CHỉ mỉm cười. Trả lời câu hỏi a. Các câu a, b, c, d chấp nhận được, câu e, g đều dùng dấu chấm sai ngữ pháp. Sửa lại: - Chẳng sợ hãi gì trước con mèo nanh ác, con chim khuyên bé tẹo sà xuống, xù lông. - Trước những lời đe doạ trắng trợn như vậy, người đàn ông gầy … [Read more...]

Ý nghĩa truyện ngắn “Thuốc” của Lỗ Tấn

Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao.Nhan đề này có nhiều nghĩa . -Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh , chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người . Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực , con cái dẫn đến cái chết của ông cụ. -Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn , đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần : căn bệnh gia trưởng , căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc . Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó . Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia … [Read more...]

Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến 2000

A. Mục tiêu ôn tập - Trình bày được tình hình hai miền Nam, Bắc và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước; - Trình bày được hoàn cảnh lịch sử, quá trình hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước (1975 – 1976); phân tích được ý nghĩa của quá trình đó. - Phân tích được tính tất yếu của sự nghiệp đổi mới và nội dung đường lối đổi mới của Đảng; - Đánh giá được những thành tựu và hạn chế trong thời gian 1986 – 2000 của sự nghiệp đổi mới. B. Nội dung ôn tập I. Tình hình hai miền Nam, Bắc sau Đại thắng mùa xuân năm 1975 và những nhiệm vụ trước mắt Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975) kết thúc thắng lợi, hoà bình được lập lại, đất nước độc lập thống nhất về mặt lãnh thổ, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng ở mỗi miền lại có một hình thức tổ chức nhà nước khác nhau, có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn. - … [Read more...]