Lịch sử 9 Bài 29

Tiết 45, 46, 47

BÀI 29: CẢ NƯỚC TRỰC TIẾP CHIẾN ĐẤU CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1965- 1973)

I – Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ (1965- 1968):

1)    Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam:

– Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” là một chiến lước chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, được tiến hành bằng quân Mỹ, quân đồng minh của Mỹ và quân đội Sài Gòn.

– Mỹ liên tiếp mở các cuộc hành quân “tìm diệt” vào Vạn Tường (Quảng Ngãi), tiếp đó là hai cuộc phản công mùa khô 1965- 1966, 1966- 1967, bằng các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định”.

2)    Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ:

– Tháng 8/1965, ta giành thắng lợi lớn ở Vạn Tường. Mở đầu cho cao trào “ Tìm Mỹ mà đánh, lùng nguỵ mà diệt” trên khắp miền Nam và chứng minh khả năng đánh thắng Mỹ của ta.

– Tiếp theo, quân dân miền Nam đã đánh bại các cuộc hành quân, càn quét lớn của Mỹ trong hai mùa khô 1965- 1966 và 1966- 1967.

– Trên mặt trận chính trị, các phong trào đấu tranh của quần chúng từ thành thị đến nông thôn đã phá vỡ từng mảng “Ấp chiến lược”, mở rộng vùng giải phóng, nâng cao uy tín của MTDTGPMNVN trên trường quốc tế.

3)    Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968):

(Đọc thêm)

II – Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thú nhất của Mỹ, vừa sản xuất (1965- 1968):

1)    Mỹ tiến hành chiến tranh không quân và hải quân phá hoại miền Bắc:

– Mỹ dựng lên “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” (8/1964), cho máy bay ném bom miền Bắc.

– Ngày 7/2/1965, Mỹ chính thức gây ra cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc.

2)    Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa sản xuất:

– Trong chiến đấu: Chuyển mọi hoạt động sang thời chiến, quân sự hoá toàn dân… Tính đến ngày 1/11/1968, đã bắn rơi, phá huỷ 3243 máy bay, tiêu diệt và bắt sống hàng ngàn phi công, bắn cháy và chìm 143 tàu chiến.

– Trong sản xuất: Lập nhiền thành tích trong nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải…

3)    Miền Bắc thực hiện nghĩa vụ hậu phương lớn:

– Khai thông tuyến đường vận chuyển chiến lược- Đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển (từ tháng 5/1959).

– Từ 1965- 1968, đưa vào miền Nam hơn 30 vạn cán bộ, bộ đội, hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược…

III – Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và “Đông Dương hoá chiến tranh” của Mỹ (1969- 1973):

1)    Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và “Đông Dương hoá chiến tranh”:

– Từ 1969, Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Nam và mở  rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, thực hiện “Đông Dương hoá chiến tranh”.

– Lực lượng chính là quân đội Sài Gòn kết hợp với hoả lực Mỹ, do cố vấn Mỹ chỉ huy.

– Quân đội Sài Gòn được sử dụng trong các cuộc hành quân xâm lược Cam- pu- chia (năm 1970), Lào (năm 1971), nhằm thực hiện âm mưu “Dùng người Đông Dương đánh người Đong Dương” của Mỹ.

2)    Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và “Đông Dương hoá chiến tranh” của Mỹ:

– Trên mặt trận chính trị:

+ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời (6/1969).

+ Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương họp (4/1970), biểu thị quyết tâm đoàn kết chống Mỹ.

– Trên mặt trận quân sự:

+ Quân đội Việt Nam phối hợp với quân dân Cam- pu- chia đánh bại cuộc hành quân xâm lược Cam- pu- chia của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn (từ tháng 4 đến tháng 6/1970).

+ Quân đội Việt Nam phối hợp với quân dân Lào đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn ở Đường 9- Nam Lào (từ tháng 2 đến tháng 3/1971).

+ Khắp các đô thị, phong trào của các tầng lớp nhân dân diễn ra liên tục. Đặc biệt ở Huế, Sài Gòn phong trào học sinh, sinh viên diễn ra rầm rộ.

3)    Cuộc tiến công chiến lược năm 1972:

– Từ ngày 30/3/1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tiến công chủ yếu.

– Đến tháng 6/1972, quân ta chọc thủng ba phòng tuyến của địch là Quảng Trị, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

– Cuộc tiến công chiến lược của ta buộc Mỹ phải thừa nhận sự thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

IV – Miền bắc khôi phục và phát triển kinh tế- văn hoá, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ (1969- 1973):

1)    Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế- văn hoá:

– Về nông nghiệp: Tăng cường áp dụng những tiến bộ khoa học, năm 1970, sản lượng lương thực tăng hơn 60 vạn tấn so với năm 1968.

– Về công nghiệp: Khôi phục và làm mới các cơ sở công nghiệp bị tàn phá, năm 1971 sản lượng công nghiệp tăng 142% so với năm 1968.

– Giao thông vận tải: Đảm bảo thông suốt.

2)    Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương:

– Ngày 16/4/1972, Mỹ chính thức cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc lần thứ hai.

– Trong điều kiện chiến tranh, các hoạt động sản xuất, xây dựng ở miền Bắc không bị ngừng trệ.

– Cuối tháng 12/1972, Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng suốt 12 ngày đêm.

– Quân dân miền Bắc đã làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa- ri (1/1973).

V – Hiệp định Pa- ri năm 1973 về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam:

– Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pa- ri được ký kết.

– Nội dung:

+ Hoa kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

+ Hai bên ngừng bắn ở miền Nam, Hoa Kỳ cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống miền Bắc Việt Nam.

+ Hoa Kỳ rút hết quân đội của mình và quân các nước đồng minh, cam kết không dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

+ Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyển cử tự do.

– Ý nghĩa: Với Hiệp định Pa- ri, Mỹ phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, phải rút hết quân về nước, tạo cơ sở thuận lợi để ta giải phóng miền Nam.


Các từ khóa trọng tâm " cần nhớ " để soạn bài hoặc " cách đặt đề bài " khác của bài viết trên:
  • lich su 9 bai 29
  • bài 29 lịch sử 9
  • Giai bai tap lich su7 bai1;2;3
  • soan su 9 bai12
  • ,