Soạn bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Bài thơ có một nhan đề rất độc đáo: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Ngay từ đầu, nhan đề bài thơ đã dự báo một giọng điệu riêng của Phạm Tiến Duật: đề cập đến một đề tài hết sức đời thường, gần gũi với cuộc sống của người lính trên đường ra trận. Đó là chất thơ của hiện thực khắc nghiệt, chất lãng mạn của tuổi trẻ trước vận mệnh vinh qung: chiến đấu để giải phóng quê hương, chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. 2. Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh đoàn xe nối nhau ra trận. Vào cuộc chiến có nghĩa là mất đi rất nhiều, đến chiếc xe cũng phải mất mát, sẻ chia. Câu mở đầu bài thơ rất giản dị mà bất ngờ: Không có kính không phải vì xe không có kính Ba chữ “không” như thể giằng nhau trong một câu thơ, dù chỉ để thông tin về một sự thật “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Có vẻ như nhà thơ đang phân bua một cách nghịch ngợm, cho sự hiện diện không trọn vẹn của … [Read more...]

Soạn bài “Vào nhà ngục quảng đông cảm tác” của Phan Bội Châu

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về tác giả: Phan Bội Châu tên thuở nhỏ là Phan Văn San, tên hiệu chính là Sào Nam, người làng Đan Nhiệm (có tài liệu ghi là Đan Nhiễm), nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông là một nhà yêu nước, một nhà cách mạng lớn nhất của dân tộc ta trong vòng hai mươi lăm năm đầu thế kỉ hai mươi. Ông còn là một nhà văn, nhà thơ lớn, với những tác phẩm thể hiện lòng yêu nước thương dân tha thiết, khát vọng độc lập tự do và ý chí chiến đấu bền bỉ, kiên cường: Hải ngoại huyết thư (thơ chữ Hán), Sào Nam thi tập (thơ chữ Hán và chữ Nôm), Trùng Quang tâm sử (tiểu thuyết chữ Hán), Văn tế Phan Châu Trinh (chữ Nôm), Phan Bội Châu niên biểu (hồi kí chữ Hán)... 2. Về tác phẩm: a) Bài thơ được sáng tác khi tác giả đang bị bắt giam ở Quảng Đông (Trung Quốc). - Bằng giọng đùa vui hóm hỉnh xen lẫn ngạo nghễ, tác giả đã cho thấy một bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường của … [Read more...]

Soạn bài Thuyết minh về một thể loại văn học

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Từ quan sát, nghe - đọc đến mô tả, thuyết minh về một thể loại văn học Cho đề bài: Thuyết minh đặc điểm của thể thơ thất ngôn bát cú. a) Quan sát, nghe - đọc - Em đã được đọc những bài thơ nào thuộc loại thất ngôn bát cú? Đọc kĩ hai bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn theo định hướng sau: - Mỗi bài thơ có mấy dòng? Mỗi dòng thơ có mấy chữ (tiếng)? Số dòng, số chữ ấy có thể thay đổi được không? - Những tiếng nào được gọi là bằng (kí hiệu là B), tiếng nào được gọi là trắc (kí hiệu là T)? Hãy ghi kí hiệu B hoặc T cho từng tiếng trong bài thơ đó, ví dụ: Bài Đập đá ở Côn Lôn: Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn (B - B - T - T - T - B - B) Lừng lẫy làm cho lở núi non. (B - T - B - B - T - T - B) Xách búa đánh tan năm bảy đống, (T - T - T - B - B - T - T) Ra tay đập bể mấy trăm hòn. (B - B - T - T - T - B - B) Tháng ngày bao quản thân … [Read more...]

Phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng – bài mẫu 2

Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, cũng như những nhân vật chính, còn gọi là nhân vật anh hùng (héros) của bi kịch, là một con người quá khổ, ta muốn nhận biết nó thì phải đo nó bằng cái thước của nó, chứ không phải của ta. Vũ Như Tô, cũng như Hamlet, như Coriolanus, như vua Lia (Lear), không phải là người tốt theo nghĩa thông thường. Con người tốt bụng, con người hiền từ hay mềm yếu, mà sự mềm yếu là "phản chỉ định" đối với nhân vật bi kịch. Con người hiền từ yếu đuối, thụ động hứng chịu, quằn quại rên xiết dưới những đòn đánh không hiểu nổi của số phận là đối tượng của kịch mêlô (mélodrame) ở châu Âu, kịch cải lương ở ta. Vũ Như Tô, nhân vật bi kịch, chủ động vùng dậy chống lại số phận, không đợi nó đánh mình, thách thức số phận xây Cửu Trùng Ðài. Nguyên nhân, lực đẩy của tính chủ động cao độ ấy ở nhân vật bi kịch là niềm say mê (passion), trong trường hợp Vũ Như Tô là say mê sáng … [Read more...]

Soạn bài “Cây bút thần” – Truyện cổ tích Trung Quốc

I. VỀ THỂ LOẠI (Xem trong bài Sọ Dừa). II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Mã Lương thuộc kiểu nhân vật có tài lạ, luôn dùng tài năng để giúp đỡ mọi người, chống lại kẻ tham lam, độc ác... rất phổ biến trong truyện cổ tích. Trong truyện cổ tích Việt Nam có một số nhân vật tương tự Mã Lương như Thạch Sanh, Sọ Dừa... 2. Mã Lương vẽ giỏi vì em không những có tài năng mà còn rất ham mê học vẽ. Vì có tài lại ham mê học tập như vậy nên Mã Lương đã được tiên ông tặng cho cây bút thần có thể giúp em vẽ được những mọi vật sống động như ý muốn. Tuy nhiên, chỉ Mã Lương mới sử dụng được cây bút đó, điều đó cho thấy nghệ thuật chân chính chỉ có được trong tay những người tài năng, đức độ. 3. Với những người nghèo, Mã Lương không vẽ những của cải sẵn có để hưởng thụ. Em vẽ cho họ cái cày, cái cuốc, cái thùng - những vật dụng sinh hoạt và phương tiện lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Việc làm của Mã … [Read more...]

Phân tích cảnh cho chữ trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

“Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Trong một không khí khói toả như cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lân hồ. Khói bốc tỏa cay mắt. Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại khúm núm cắt những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…”. Đoạn văn miêu tả đặc sắc đầy chất tạo hình và điện ảnh trên hẳn đã góp phần làm sáng tỏ thêm nhân định : Nguyễn Tuân là một trong những bậc thầy về ngôn ngữ dân tộc ; đồng thời cũng khẳng định … [Read more...]

soạn bài Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm ca dao Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian. Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự. 2.  Đặc điểm của ca dao Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm... Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu... (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu … [Read more...]

soạn bài tựa “Trích Diễm Thi Tập” của Hoàng Đức Lương

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Hoàng Đức Lương người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh H­ưng Yên, sau chuyển đến ở làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm năm 1478. Ông để lại: Trích diễm thi tập, đề tựa năm 1479, thơ chữ Hán còn lại 25 bài chép trong Trích diễm thi tập, sau này được Lê Quý Đôn đ­ưa vào Toàn Việt thi lục. 2. Tựa là bài văn đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội hoạ, âm nhạc,… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy. Bài tựa có thể do tác giả tự viết hoặc do một ai đó thích thú tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường có phần lạc khoản: ghi rõ họ tên, chức t­ước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài tựa. Bài tựa cũng thể hiện những quan điểm mang tính thời đại và của chủ quan người viết. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường được kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi mang sắc thái … [Read more...]

Soạn bài Đặc điểm của văn bản biểu cảm

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Ví dụ: Đọc bài văn Tấm gương (SGK, tr.85) và trả lời các câu hỏi sau: a) Bài văn Tấm gương biểu đạt tình cảm gì? b) Để biểu đạt tình cảm đó, tác giả bài văn đã làm như thế nào? c) Bố cục bài văn gồm mấy phần? Phần Mở bài và Kết bài có quan hệ với nhau như thế nào? Phần Thân bài đã nêu những ý gì? Những ý đó đã liên quan đến chủ đề như thế nào? d) Tình cảm và sự đánh giá của tác giả trong bài có rõ ràng, chân thực không? Điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với giá trị của bài văn? Gợi ý: a) Bài văn này ngợi ca đức tính gì? phê phán đức tính gì? (trung thực, xu nịnh dối trá). b) Để biểu đạt tình cảm đó tác giả đã mượn hình ảnh tấm gương làm chỗ dựa bởi nó luôn phản chiếu một cách trung thực tất cả mọi thứ xung quanh. c) Bố cục của bài văn: - Mở bài: đoạn đầu. - Thân bài: tiếp theo đến … mà lòng không hổ thẹn. - Kết bài: đoạn còn lại. Mở bài và Kết bài … [Read more...]

Soạn bài Nghĩa của từ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1) Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ,...) mà từ biểu thị. 2) Trong các bài đọc văn bản, ở phần tiếp sau văn bản được trích hoặc nguyên văn, thường có phần chú thích. Chủ yếu các chú thích là nhằm giảng nghĩa của các từ lạ, từ khó. Ví dụ: - tập quán: thói quen của một cộng đồng (địa phương, dân tộc, v.v...) được hình thành từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo. - lẫm liệt: hùng dũng, oai nghiêm. - nao núng: lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa. 3) Cấu tạo của mỗi chú thích trên gồm mấy bộ phận? Mỗi chú thích gồm hai bộ phận: phần từ cần chú thích và phần nghĩa của từ được chú thích (sau dấu hai chấm). 4) Trong ba trường hợp chú thích trên, nghĩa của từ được giải thích theo hai kiểu: - Giải thích bằng khái niệm mà từ biểu thị (tập quán); - Giải thích bằng các từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ được giải thích (lẫm … [Read more...]

phân tích nhân vật Thị Nở trong tác phẩm “Chí phèo” – bài mẫu 1

Khi xây dựng nhân vật Thị Nở, nhà văn Nam Cao thẳng cánh hạ bút những dòng này: "Người ta không ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo, cái ngẩn ngơ của mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy". Nghèo, xấu, ngẩn ngơ như ba mặt của một lô cốt hình tam giác chóp, nơi tác giả đã nhốt chặt nhân vật Thị Nở của mình vào trong đó. Nhưng có thật thị chỉ có ba điều ấy không? Nhà văn Nam Cao đã xử lý như thế nào trong quá trình triển khai "dự án thiết kế ban đầu" này? Tôi cho rằng nhân vật Thị Nở ngay từ đầu là một biểu hiện nguyên khối của con người tự nhiên, thuộc về tự nhiên, chứ không hề sắm vai con người xã hội. Thị xấu ma chê quỷ hờn ư? Trong biết bao nhiêu thành phẩm của tạo hóa có phải thứ nào cũng đẹp cả đâu! Đã là giới tự nhiên thì vừa có cái hoàn toàn đẹp, có cái hoàn toàn xấu, lại có cái vừa đẹp vừa xấu. Thị Nở xấu xí như thể một bộ phận của tự nhiên xấu xí, là chuyện có thực. Hơn nữa, … [Read more...]

Soạn bài “Vi hành” của Hồ Chí Minh

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN: Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân dân ta một sự nghiệp văn chương lớn lao về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách sáng tác. Có thể xếp tác phẩm của Người vào ba thể loại: Văn chính luận, truyện và kí, thơ ca. Mỗi thể loại có một đặc sắc riêng và đều có tác phẩm thành công. Văn chính luận có Tuyên ngôn Độc lập, Truyện kí có Vi hành, thơ có Nhật kí trong tù. Vi hành là truyện ngắn xuất sắc của Hồ Chí Minh, được viết bằng tiếng Pháp, đăng trên báo Nhân đạo - cơ quan của đảng Cộng sản Pháp - số ra ngày 19 - 2 - 1923. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc sử dụng bút pháp hiện thực phê phán trào phúng rất hợp với sở thích của độc giả Pháp. Tác phẩm được đăng báo vào đúng dịp vua Khải Định được chính phủ Pháp đưa sang dự cuộc đấu xảo thuộc địa tổ chức ở Macxây. Tác phẩm hướng đến mục đích chính trị: cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ sự … [Read more...]

Soạn bài Tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đặc điểm của đề văn tự sự  - Đề văn tự sự là yêu cầu về chủ đề để trên cơ sở đó định hướng cho người viết. - Có thể có nhiều cách diễn đạt về yêu cầu tự sự, nói cách khác, khái niệm tự sự trong đề văn có thể được diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau: tường thuật, tường trình, kể chuyện,... Có khi đề văn tự sự chỉ nêu ra chủ đề mà không kèm theo yêu cầu về thao tác (các yêu cầu về thao tác như: Em hãy tường thuật..., Em hãy tường trình..., Em hãy kể lại...). - Đề văn tự sự có thể nghiêng về yêu cầu kể người, nghiêng về yêu cầu kể việc hay nghiêng về yêu cầu tường thuật sự việc. 2. Tìm hiểu đề văn tự sự Khi tìm hiểu đề văn tự sự phải tìm hiểu kĩ lời văn của đề để nắm vững yêu cầu của đề bài. Đọc các đề sau và thực hiện các yêu cầu: (1) Kể một câu chuyện em thích bằng lời văn của em. (2) Kể chuyện về một người bạn tốt. (3) Kỉ niệm ngày thơ ấu. (4) Ngày … [Read more...]

Soạn bài “Thánh Gióng” – Truyền Thuyết

I. VỀ THỂ LOẠI (Xem trong bài Con Rồng, cháu Tiên). II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Truyền thuyết Thánh Gióng có nhiều nhân vật (bố mẹ, dân làng, vua, sứ giả...) nhưng nhân vật chính là Thánh Gióng. Nhân vật này được xây dựng bằng rất nhiều chi tiết tưởng tượng có tính chất kì ảo: sinh ra khác thường (bà mẹ chỉ ướm vào vết chân lạ mà thụ thai); thụ thai đến mười hai tháng; ba tuổi mà chẳng biết đi đứng, nói cười; khi giặc đến thì bỗng dưng biết nói và lớn nhanh như thổi, sức khoẻ vô địch; đánh tan giặc lại bay về trời. 2. Các chi tiết đặc biệt trong truyện thể hiện rất nhiều ý nghĩa. Thứ nhất. tiếng nói đầu tiên của Gióng là tiếng nói đòi đi đánh giặc. Chi tiết này chứng tỏ nhân dân ta luôn có ý thức chống giặc ngoại xâm. Khi có giặc, từ người già đến trẻ con đều sẵn sàng đánh giặc cứu nước. Đây là một chi tiết thần kì: chưa hề biết nói, biết cười, ngay lần nói đầu tiên, chú bé đã nói rất rõ … [Read more...]

Cảm nhận ngày đầu vào trường Trung học phổ thông – bài mẫu 2

Tháng năm học trò trôi đi êm ả Háo hức đón hè, chờ đợi tiếng ve Ta cũng biết bằng lăng máu tím Và nghĩ rằng phượng vĩ khóc nhè Thời gian qua chẳng nói với hàng me Ta cũng vô tình lật từng trang vở Khi hoa gạo hết thời rực rỡ Ta chợt hiểu mình đánh mất thời gian Không biết hai khổ thơ trên đã đi vào tâm trí tôi tự lúc nào mà mỗi lần chứng kiến học sinh lớp 10 nhập học tôi lại bâng khuâng nhớ về mình của 2 năm trước đây. Cảm xúc của ai cũng vậy, khi đứng trước cánh cổng trường, ai cũng cảm thấy trăn trở, lo lắng cho những gì sắp đến. Chắc hẳn trong mỗi chúng ta, ai cũng sẽ có riêng cho mình những khoảnh khắc khó quên của cuộc đời. Và đối với tôi cũng vậy, những ngày tháng chia tay với mái trường cũ để bước vào ngôi trường mới – một cánh cửa mới của cuộc đời thật sự là giây phút khó quên. Chia tay với chiếc khăn quàng đỏ, với ngôi trường THCS, ngưỡng cửa trường THPT đã đến, … [Read more...]

Soạn bài “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn khuyến

I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1. Tác giả Nguyễn Khuyến (1835 - 1909), người thôn Vị Hạ (làng Và), xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Vì thi đã đầu cả ba kì thi Hương, thi Hội, thi Đình nên có tên gọi Tam Nguyên Yên Đổ. Nguyễn Khuyến làm quan chừng 10 năm, rồi cáo quan về ở ẩn. Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của dân tộc. Thơ của ông gồm cả chữ Nôm và chữ Hán, hầu hết được sáng tác vào giai đoạn khi ông đã từ bỏ chốn quan trường. 2. Tác phẩm Bạn đến chơi nhà là một bài thơ trữ tình đặc sắc được làm theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Với bài thơ này, tác giả đã cho ta thấy một trong những tình cảm quý giá nhất của con người ấy là tình bạn. II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nhận dạng thể thơ của bài thơ này? Gợi ý: Bằng những kiến thức đã biết về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, hãy nhận diện bài thơ về số câu, số chữ, về cách hiệp vần vầ về luật đối. 2. Bài thơ lập ý bằng cách … [Read more...]

Phân tích cảnh cho chữ trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân – bài mẫu 2

Nguyễn Tuân là một trong năm tác gia lớn của nền văn học Việt Nam. Ông có đóng góp không nhỏ đối với nền văn học hiện đại. Suốt cả cuộc đời Nguyễn Tuân luôn khát khao đi tìm cái đẹp, cái tinh hoa của đất trời để sáng tạc nên những kiệt tác văn học độc đáo. Và tác phẩm “Chữ người tử tù” trích trong tập “Vang bóng một thời”của ông cũng chứa đụng những nết đẹp đó. Từ xưa đến nay, chơi chữ được coi là một thú chơi tao nhã của những kẻ có học thức. Thú chơi chữ thể hiện được toàn bộ cái đẹp, cái tài năng và cả trí tuệ của người viết cũng như người thưởng thức. Cảnh cho chũ thường được diễn ra tại những nơi trang trọng, có đủ trăng hoa tuyết nguyệt để khơi nguồn cảm xúc. Rồi từ đó những nét chũ uyển chuyển mang trong nó cả cái hồn riêng được ra đời. Nhưng cũng những nét chữ uyển chuyển có hồn ấy, Nguyễn Tuân lại cho nó sinh ra trong một hoàn cảnh khác lạ, “ một cảnh xưa nay hiếm”. Đó là … [Read more...]

Cảm nhận ngày đầu vào trường Trung học phổ thông – bài mẫu 1

Đã 5 năm ta rời xa trường, 5 năm ta khoác bỏ chiếc áo đồng phục, 5 năm ta không còn được tham gia vào ngày tựu trường nữa. 5 năm với bao nhiêu đổi thay, bao nhiêu biến cố cuộc đời. Cũng ngày này cách đây 8 năm, ta giống như các em học sinh đang học lớp 10 trường cấp 3 bây giờ, ngơ ngác bước vào cánh cổng trường. Lần đầu tiên ấy, ta thấy trường của ta thật đẹp, thật hoành tráng. Ta vui lắm. Mọi thứ đều rất mới lạ, đầy bí ẩn đối với ta, ta thích thú khám phá dần dần. Từ những bộ bàn ghế chắc chắn tới chiếc bảng màu xanh lần đầu tiên ta thấy. Cả những bạn cùng lớp xinh xắn, hay các anh chị khóa trên chững chạc. Tất cả đều lung linh lắm. Ngày tựu trường đầu tiên của phổ thông cũng là ngày đầu tiên ta mặc áo dài. Chiếc áo dài trắng tinh khôi! Ta như con quạ hóa công khi mặc chiếc áo ấy bởi lẽ ta thấy mình lớn hơn, duyên dáng hơn, xinh xắn hơn. Chiếc áo dài ấy theo ta suốt 3 năm phổ … [Read more...]

Nghị luận “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

Hình ảnh con ngựa và cả tàu( cả đàn ngựa) đã được sử dụng với nghệ thuật ẩn dụ đã thể hiện một lớp nghĩa rất hay đó là sự gắn bó, đoàn kết. Khi đọc qua câu tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”, trước hết, trong chúng ta hiện ra những hình ảnh đơn giản. Đó chính là hình ảnh một con ngựa bị bệnh thì cả đàn ngựa “cả tàu” lo lắng “ bỏ cỏ”, chăm sóc con ngựa bị ốm. Đó chỉ là những suy nghĩ đơn giản, thoáng qua và khi ta suy ngẫm thì ta có thể hiểu được một lớp nghĩa hay, chứa đựng một bài học về đạo đức. Một con ngựa biểu trưng cho những cá nhân, riêng lẻ, đơn độc còn cả tàu là biểu trưng cho tập thể lớn, sự đoàn kết, gắn bó. Khi một cá nhân gặp trắc trở thì tất cả tập thể, mọi người xung quanh lo lắng, quan tâm, chăm sóc cho một cá nhân ấy. Một lối sống tốt của người Việt Nam. Tất cả chúng ta đều biết trong cuộc sống ai cũng gặp những chông gai, sóng gió và để vượt qua được thì chúng … [Read more...]

Soạn bài Chỉ từ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Chỉ từ là gì? a) Xác định các cụm danh từ có các từ in đậm trong những câu sau: Ngày xưa có ông vua nọ sai một viên quan đi dò la khắp nước tìm người tài giỏi. Viên quanấy đã đi nhiều nơi, đến đâu quan cũng ra những câu đố oái oăm để hỏi mọi người. Đã mất nhiều công tìm kiếm nhưng viên quan vẫn chưa thấy có người nào thật lỗi lạc. Một hôm, viên quan đi qua một cánh đồng làng kia, chợt thấy bên vệ đường có hai cha con nhà nọ đang làm ruộng [...] (Em bé thông minh) Gợi ý: ông vua nọ, viên quan ấy, một cánh đồng làng kia, hai cha con nhà nọ b) Các từ in đậm bổ sung ý nghĩa cho từ nào trong cụm danh từ? Các từ in đậm bổ sung ý nghĩa cho các danh từ: ông vua, viên quan, làng, nhà. Các từ nọ, ấy, kia có vai trò xác định không gian cụ thể cho các sự vật được biểu thị bằng danh từ mà nó đi kèm, nhằm phân biệt sự vật ấy với sự vật khác. c) Hãy so sánh các từ và cụm … [Read more...]

Soạn bài Động từ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Động từ có những đặc điểm gì? a) Tìm động từ trong các câu dưới đây: (1) Viên quan ấy đã đi nhiều nơi, đến đâu quan cũng ra câu đố oái oăm để hỏi mọi người. (Em bé thông minh) (2) Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo. [...] Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương. (Bánh chưng, bánh giầy) (3) Biển vừa treo lên, có người qua đường xem, cười bảo: - Nhà này xưa quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ phải đề biển là cá "tươi"? (Treo biển) Gợi ý: Các động từ: đi, đến, ra, hỏi (1); lấy, làm, lễ (2); treo, có, xem, cười, bảo, bán, phải, đề (3) b) Các động từ vừa tìm được có gì giống nhau về ý nghĩa? Các động từ có đặc điểm giống nhau về nghĩa là: chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật. c) Hãy rút ra đặc điểm về khả năng kết hợp của động từ. Động từ có khả năng kết hợp với các từ sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, chớ, đừng ở phía trước để tạo thành cụm động từ. Nhận … [Read more...]

Soạn bài ”Mùa xuân của tôi” – Vũ Bằng

I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1. Thể loại Văn bản Mùa xuân của tôi cũng được viết theo thể tuỳ bút, trong cảm hứng của một người xa quê, nhớ về mùa xuân gợi cảm nơi đất Bắc. 2. Tác giả Vũ Bằng (1913-1984) là một nhà văn, nhà báo đã khá nổi tiếng ở Hà Nội từ những năm trước Cách mạng tháng Tám. Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn, vừa viết văn, làm báo vừa tham gia hoạt động cách mạng. Dù ở xa nhưng Vũ Bằng luôn nhớ về Hà Nội, về quê hương yêu dấu với biết bao kỉ niệm êm đềm, những ấn tượng sâu sắc không thể phai nhoà. Ông đã viết thiên tuỳ bút rất gợi cảm Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt (in trong tập Thương nhớ mười hai) để thể hiện nỗi nhớ bâng khuâng, da diết và lòng mong mỏi đất nước thống nhất của mình. II. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Bài tuỳ bút này tái hiện cảnh sắc thiên nhiên và không khí mùa xuân trong tháng giêng ở Hà Nội và miền Bắc qua nỗi nhớ thương da diết của một người con xa … [Read more...]

Soạn Bài toán dân số của Thái An

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về vấn đề nêu trong văn bản: Viết về hiểm hoạ của việc gia tăng dân số quá nhanh - một đề tài vừa khó vừa khô khan, tác giả đã chọn cách vào đề thật hấp dẫn, vừa thực tế, vừa giàu sức thuyết phục. Từ câu chuyện nhà giàu kén rể đến 64 ô bàn cờ với một lượng tóc "nhiều đến mức có thể phủ khắp bề mặt Trái Đất", bạn đọc dễ dàng hình dung về sự gia tăng dân số chóng mặt với tốc độ sinh sản như hiện nay. 2. Về cấu trúc và giá trị nội dung của văn bản: a) Đề cập về một vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, văn bản Bài toán dân số được cấu trúcthành ba phần: Phần mở bài (từ đầu cho đến "sáng mắt ra"...), tác giả nêu ra vấn đề: bài toán dân số và kế hoạch hoá gia đình đã được đặt ra từ thời cổ đại; Phần thân bài (từ "Đó là câu chuyện từ bài toán cổ..." cho đến "...sang ô thứ 31 của bàn cờ"), tác giả làm rõ vấn đề đã được nêu ra: Tốc độ gia tăng nhanh chóng của dân số … [Read more...]

Soạn bài Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Dấu ngoặc đơn - Dấu ngoặc đơn có nhiều kiểu loại, ngoặc tròn ( ), ngoặc vuông [ ], ngoặc nhọn { }. Dùng phổ biến nhất là ngoặc tròn, những kiểu khác ít gặp hơn - Công dụng: Dấu ngoặc đơn dùng để đánh dấu phần chú thích (giải thích, thuyết minh, bổ sung thêm). Ví dụ:       + Huy (đứa bạn cùng lớp) đến nhà, rủ nó đi chơi.                  + Tiếng trống của Phìa (lý trưởng) thúc gọi thuế vẫn rền rĩ. (Tô Hoài)                  + … Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!) (Giang Nam) Dấu ngoặc đơn là loại dấu câu có chức năng tách biệt. Tác dụng của nó cũng tương tự như dấu phẩy hoặc dấu gạch ngang. Khi dùng cặp đôi để tách thành phần biệt lập. Sự tách biệt thành phần biệt lập làm cho nội dung ý nghĩa của câu phân thành hai bình diện khác nhau: bình diện khách quan, của phần người viết trình bày ngoài ngoặc đơn và bình diện chủ quan là của phần chú tích trong … [Read more...]

Bình luận một số câu thơ trong Truyện Kiều

Một trong số ít các tác phẩm lớn được nhiều người dân đủ mọi tầng lớp biết đến và  học thuộc lòng đó là Truyện Kiều. Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều vẫn luôn tồn tại trong đời sống của dân tộc Việt chúng ta.Vì vậy đối với bài bình luận này, hy vọng nhà thơ Vương Trọng sẽ mang lại hứng thú cho học sinh, sinh viên học văn, thầy giáo, cô giáo dạy văn cũng như bạn đọc mê Truyện Kiều. 1 – Sống làm vợ khắp người ta Hại thay thác xuống làm ma không chồng. Đây là lời Thuý Kiều thốt lên sau khi nghe Vương Quan kể chuyện bi thảm của Đạm Tiên bên ngôi mộ “sè sè nấm đất”, “dàu dàu ngọn cỏ”, lạnh lẽo cả trong tiết Thanh minh. Đạm Tiên trước, Thuý Kiều sau; ca nhi ngàn xưa và “ca-ve” ngày nay có chung một đặc điểm: Đấy là những người con gái tạo hoá ban cho một chút nhan sắc nhưng lại giáng xuống bản thân hoặc gia đình họ những tại hoạ, buộc họ phải gánh chịu, đưa đẩy họ vào chốn lầu xanh, mất … [Read more...]

soạn bài Khái quát lịch sử tiếng việt (tiếp theo)

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 4. Quá trình phát triển của tiếng Việt 4.1. Tiếng Việt thời kì cổ đại Tiếng Việt thời kì thượng cổ đã có một kho từ vựng khá phong phú và một bản sắc riêng về ngữ pháp, ngữ âm. Đến thời kì tiếp theo, trong sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Hán, với sức sống tiềm tàng, được sự chăm lo gìn giữ của nhân dân, tiếng Việt chẳng những không bị mai một mà trái lại vẫn tồn tại và phát triển không ngừng cả về ngữ âm, từ vựng. 4.2. Tiếng Việt thời kì từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Dưới sự thống trị của phong kiến Trung Hoa, tiếng Việt chưa có chữ viết. Nhưng khi ý thức độc lập, tự chủ và tự cường của dân tộc lên cao, khi yêu cầu phát triển văn hoá và kinh tế của đất nước trở nên bức thiết, trên cơ sở chữ Hán, cha ông ta đã sáng chế ra một lối chữ để ghi tiếng Việt: chữ Nôm. Chữ Nôm bước đầu được sử dụng vào khoảng thế kỉ X – XIII; đến khoảng thế kỉ XV đã có thơ văn “quốc âm”, “quốc … [Read more...]

Soạn bài Từ tượng hình, từ tượng thanh

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Thế nào là từ tường hình, từ tượng thanh? - Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật. Ví dụ: + lẻo khẻo, khệnh khạng, tun ngủn, nặng nề, bệ vẹ, lênh khênh, tha thướt, … + Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời (Quang Dũng) - Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người. Ví dụ : + róc rách, ha hả, hềnh hệch, hu hu, sòng sọc, loảng xoảng, phì phì, ầm ầm, tí tách, … + Văng vẳng bên tai tiếng chích choè, Lặng đi kẻo động khách làng quê. Nước non có tớ cùng vui vẻ, Hoa nguyệt nào ai đã đắm mê. Quyên đã gọi hè quang quác quác, Gà từng gáy sáng tẻ tè te Lại còn giục giã, về hay ở, Đôi gót phong trần vẫn khoẻ khoe. (Nguyễn Khuyến) 2. Công dụng của từ tượng hình, từ tượng thanh: - Từ tượng hình, từ tượng thanh do có chức năng gợi hình và mô phỏng âm thanh cụ thể, sinh động như … [Read more...]

Suy nghĩ về giữ gìn truyền thống dân tộc của thế hệ trẻ

Từ thời xa xưa, ông bà ta đã thường sử dụng những câu thành ngữ, tục ngữ để răng đe dạy và nhắc nhở con cháu của mình về những phẩm chất, đạo lí cần thiết mà mỗi người ai cũng phải có như là: “một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tùy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.....các câu tục ngữ, thành ngữ ấy thể hiện lòng hiếu thảo, sự biết ơn và lòng thương người... Trong đó, có câu tục ngữ “uống nước nhớ nguồn” thể hiện phẩm chất đạo đức quan trọng của người Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đất nước mình đang ngày một phát triển để hội nhập với nước ngoài thì đạo lí này càng trở nên sâu sắc hơn. Sau đây, tôi và các bạn hãy cùng nhau làm rõ câu tục ngữ này để có thể hiểu tận tường những ý từ của ngươì xưa muốn răng dạy chúng ta thông qua câu tục ngữ này. Thoạt nghe qua thì chắc hẳn ai cũng có suy nghĩ này rất … [Read more...]

cảm nghĩ về Bố – bài mẫu 1

Từ khi mở mắt chào đời, người nuôi nấng tôi nên người chính là người cha yêu dấu của tôi. Cha vui vẻ, thương con, và tốt bụng. Những đức tính ấy của ba tôi chắc hẳn sẽ phải khiến cho những người ba khác phải nghĩ lại - tôi luôn nghĩ vậy. Ba nay ngoài năm mươi, tuổi mà ngày xưa dân ta gọi bằng cụ. Mái tóc của ba tôi ngày càng bạc đi theo năm tháng. Làn da của ba màu bánh mật, đã có vài chấm đồi mồi xuất hiện trên tay của ba. Đôi mắt màu nâu sậm, cái mũi cao đặc trưng của họ nội nhà tôi làm cho ba như trẻ lại vài ba tuổi. Người ba tôi khỏe mạnh nhưng hơi gầy. Ở nhà, ba phụ mẹ tôi bán hàng sau khi đã nghỉ hưu. Những người chị của tôi được ba nuôi nấng thành tài. Không phụ lòng của ba, tôi cũng cố gắng học thật giỏi bằng việc tự học bài và làm bài tập về nhà đầy đủ mà không cần ba nhắc, hằng ngày đi học được điểm cao. Nhắc đến số điểm, tôi nhớ nhất lần tôi được có năm phẩy tám điểm môn … [Read more...]

Soạn bài Từ trái nghĩa

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN  1. Thế nào là từ trái nghĩa? Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa trái ngược nhau. a) Tìm trong bản dịch thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Tương Như và Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Trần Trọng San các cặp từ trái nghĩa. Gợi ý: Các cặp từ trái nghĩa: ngẩng - cúi (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh); trẻ - già, đi - trở lại (Ngẫu nhiên viết nhân buổi về quê). b) Tìm từ trái nghĩa với từ già trong trường hợp rau già, cau già. Gợi ý: trẻ - già trái nghĩa với nhau về tuổi tác; trong trường hợp rau già, cau già, trái nghĩa với già là non (rau non, cau non) 2. Sử dụng từ trái nghĩa a) Nhận xét về nghệ thuật sử dụng từ trái nghĩa trong hai bản dịch thơ trên. Gợi ý: Về cặp từ trái nghĩa ngẩng - cúi trong bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh, hãy đọc đoạn văn sau: Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương. Tất cả diễn ra trong thoáng chốc (ngỡ – ngẩng … [Read more...]

Soạn bài Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Từ nhiều nghĩa a) Từ nhiều nghĩa là gì? - Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa - Ban đầu, từ thường chỉ có một nghĩa nào đó. Nhưng trong thực tế sử dụng, để đáp ứng trình độ nhận thức ngày càng cao của con người, trình độ phát triển của xã hội, nhằm gọi tên, biểu đạt những sự vật, hiện tượng, khái niệm mới, ngoài cách tạo ra những đơn vị từ mới hoàn toàn, người ta thêm vào nghĩa mới cho những từ đã có sẵn. Cách thêm nghĩa mới vào cho từ chính là cách tạo ra từ nhiều nghĩa. - Phân biệt giữa từ nhiều nghĩa và từ đồng âm: + Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa có mối quan hệ nhất định với nhau, xem xét nghĩa của từ nhà trong các trường hợp sau: (1) Ngôi nhà đã được xây xong. (2) Dọn nhà đi nơi khác. (3) Cả nhà đều có mặt đông đủ. (4) Nhà Dậu mới được cởi trói. (5) Nhà Tiền Lê đổ, nhà Lí lên thay. (6) Nhà ơi, giúp tôi một tay. Như vậy, từ nhà có các nghĩa: + … [Read more...]

Soạn bài Luyện tập kết hợp các thao tác nghị luận

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Một bài văn phải là một chỉnh thể về hình thức và nội dung bao gồm kiến thức, các bước lập luận… Khi viết một bài văn nghị luận cần phải kết hợp nhiều thao tác nghị luận như so sánh, phân tích, chứng minh, giải thích, bình luận, suy luận... II. RÈN KĨ NĂNG 1. Luận điểm và các thao tác nghị luận được sử dụng trong các ví dụ a)  Luận điểm: Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam Thao tác nghị luận chính: so sánh và chứng minh. b)  Luận điểm: Người Việt Nam cần đổi mới Thao tác nghị luận chính: so sánh và phân tích. c) Luận điểm: Bóng trăng trong thơ Hồ Xuân Hương. Thao tác nghị luận chính: chứng minh và suy luận. d)  Luận điểm: Cần cù bù khả năng. Thao tác nghị luận chính:giải thích. e) Luận điểm: Cái mới bao giờ cũng chiến thắng cái cũ. Thao tác nghị luận chính: giải thích và chứng minh. 2.                Kết hợp các thao tác nghị luận thích hợp (phân … [Read more...]